Trắng đêm trên xuồng
|
Hơn 16 giờ chiều, vợ và con trai của anh Hoành gánh lương thảo, dầu đèn xuống chất lên xuồng rồi cùng xoay xuồng từ bờ xuống nước. Anh Hoành quay máy nổ bành bạch, giữ bánh lái, mắt ngước nhìn phía trước để tìm lối ra bởi nước đang xuống cạn. Chiếc xuồng lắc lư, chao đảo vượt qua từng đợt sóng vỗ vào bờ trắng xóa. Tôi ngồi đầu mũi nên bị sóng hất tung người lên rồi thả xuống liên tục. Nước văng lên trùm ướt cả mui thuyền. Xuồng theo hướng nam thẳng tiến. Chạy một lúc trời bỗng nổi gió, sóng to cỡ cấp 4 – 5 nên thuyền cứ bị dồi dập liên hồi.
Chạy gần 1 tiếng đồng hồ, anh Hoành giảm ga, sửa soạn giạ (một loại lưới) thả xuống biển bắt đầu đánh. Tôi giúp anh giữ đe cho cân bằng. Thả giạ xong, anh chỉnh ga cho xuồng chạy với tốc độ khoảng 2 – 3 hải lý/giờ. Cứ thế, xuồng chầm chậm chạy dọc theo lọn nước ven bờ.
|
23 giờ 30 phút, anh Hoành tắt máy, kéo giạ lên đầy ghẹ mặt trăng, tôm. Sau khi thả giạ xuống lại biển, chúng tôi tiến hành phân loại ghẹ, tôm lớn, tôm nhỏ và cá, mực để ra từng rá riêng; sứa thì vứt lại xuống biển. Làm một lúc, tay tôi đã ngứa khó chịu vì ghẹ, tôm chích và sứa.
Đêm, anh Hoành cứ chong mắt về phía trước, lúc đảo sang hai bên quan sát để tránh va chạm xuồng khác và khỏi quấn giạ lẫn nhau. Chúng tôi kéo mẻ giạ thứ hai lúc 4 giờ hơn của ngày hôm sau.
Lời nguyện cầu trước biển
Cũng như anh Hoành, ngư dân bãi ngang Hải Ninh ai nấy quần quật đánh bắt. Trời tờ mờ sáng, tôi gặp ngư dân trẻ Nguyễn Văn Phong vội vàng chuyển đồ xuống bờ rồi thay bình ắc quy của xuồng do vợ Trương Thị Hoàn mang xuống để kịp quay ngược ra lại biển xúc ruốc. Xuồng chồng rời đi, chị Hoàn mới yên tâm quay lên. Chị đặt bình ắc quy một đầu, tôm cá một đầu rồi gánh về nhà. Dáng chị gầy nhom, tưởng như oằn cong trên cát.
Tầm giữa buổi sáng, khi tôi đến nhà thì Phong đã trở về và đang nằm ngủ lấy sức; chị Hoàn cũng bán xong mớ tôm, ghẹ về. Gia đình Phong đang tá túc tạm bợ trong “ngôi lều” xây bằng bờ lô rộng chừng 25 m2 trên vườn nhà của bố mẹ. Cát trắng ngoài vườn hắt vào ngay mép cửa.
Lấy nhau mấy năm trời, sinh được 2 người con nhưng nay vợ chồng Phong vẫn chưa làm nổi ngôi nhà để ở. “Biển nhìn vậy chứ không ai biết trong lòng có gì. Đánh bắt ngày có ngày về không”, chị Hoàn vừa đong đưa cái võng kẽo kẹt vừa thở dài. Khốn khó khiến vợ chồng Phong già nua hơn tuổi rất nhiều.
Nghe chị Hoàn nói, tôi nhớ đến hình ảnh 3 khuôn mặt buồn xo đi trên xuồng của anh Trương Văn Phu trở về trắng lưới; hay như xuồng của ông Nguyễn Văn Lương vỏn vẹn có 1,5 kg mực cơm. Biển khi có khi không, nhưng tiền sắm xuồng, ngư lưới cụ, dầu đèn, thực phẩm thì cố định phải chi. Và hiếu hỷ, liên hoan cũng tiêu tốn không ít tiền bởi người Hải Ninh nhiều anh em bà con, hàng xóm và luôn sống tình cảm, đoàn kết; có gia đình mất cả chục triệu đồng một tháng. Vậy nên ngư dân Hải Ninh mãi loay hoay trong vòng xoáy tiền bạc.
|
Khó khăn đấy nhưng ngư dân bãi ngang chẳng ai có suy nghĩ bỏ nghề. Đó là khí chất người làng biển. Trẻ con bãi ngang chập chững bước đi đã được theo mẹ ra biển đón cha; đến khi lên 5 lên 10 đã lên xuồng theo cha ra khơi. Lớp cha đi trước, lớp con theo sau; thế hệ này nối tiếp thế hệ kia bám biển. Đàn ông kẻ biển lên thuyền mang theo lo lắng, hy vọng, chờ đợi của vợ con ở nhà.
Được mất, no đói cả gia đình phụ thuộc vào chuyến biển. Vì vậy, khi biển có thì ngư dân cật lực làm. Như vợ chồng ông Mai Văn Cọi và Ngô Thị Bền ở thôn Tân Hải. 4 giờ sáng ông Cọi dậy đi giạ ruốc; khi đầy xuồng, ông mang vào bờ cho bà Bền gánh về phơi khô rồi ông quay xuồng đi tiếp chuyến nữa đến xế trưa mới vào.
Như ông Hoàng Văn Tản, đã 74 tuổi rồi mà vẫn chịu khó ra biển xúc ruốc mấy tiếng đồng hồ. Gặp tôi, ông hồ hởi khoe thành tích vừa xúc được 3 yến và bán ngay tại xuồng với giá 180.000 đồng. “Chừng đó đủ thân già này sống rồi chú à, mong chi hơn nữa”, ông Tản nói rồi cười sảng khoái.
Theo báo cáo tổng kết khai thác cá vụ bắc năm 2019 – 2020 của Sở NN-PTNT Quảng Bình thì nguồn lợi vùng biển ven bờ bị suy giảm. Thời gian tới sẽ điều tra trữ lượng nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ và vùng lộng, làm cơ sở xác định hạn ngạch giấy phép khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng để cấp phép cho tàu cá; ban hành quy chế quản lý hoạt động khai thác thủy sản tại vùng nước ven bờ và vùng nội địa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
|